Những Điều Cần Biết Khi Chăm Trẻ Thiếu Cân

Trẻ nhẹ cân là trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500g. Trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 1500g là rất khó nuôi, phải rất cẩn thận trong việc chăm sóc.Hôm nay webmecuti sẽ chia sẻ một số kinh nghiệm chăm sóc trẻ sinh ra thiếu cân cho những mẹ tham khảo.

 

 

I. Thế nào là trẻ sơ sinh nhẹ cân?

Trẻ nhẹ cân là trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500g. Trẻ có cân nặng lúc sinh giữa 1.000g và 1.499g gọi là trẻ rất nhẹ cân, và trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 1.000g là trẻ cực nhẹ cân.

Những trẻ này có thể đủ tháng hoặc non tháng; Bình thường hoặc có dị tật bẩm sinh; Nguyên nhân nhẹ cân có thể do chậm tăng trưởng trong tử cung hoặc không.

II. Các dạng trẻ nhẹ cân

Trẻ nhẹ cân được phân loại theo tuổi thai (trẻ nhẹ cân đủ tháng và nhẹ cân non tháng), Theo sự cân đối (nhẹ cân cân đối và nhẹ cân không cân đối) và theo suy dinh dưỡng (nhẹ cân có gầy mòn và không gầy mòn). Trẻ nhẹ cân dưới 37 tuần tuổi thai gọi là trẻ nhẹ cân non tháng.

Trẻ nhẹ cân và không cân đối hoặc trẻ gầy mòn là những trẻ chỉ có cân nặng thấp, còn chiều cao và vòng đầu bình thường. Trẻ nhẹ cân cân đối là những trẻ giảm cả cân nặng, chiều cao và vòng đầu. Trẻ sinh đủ tháng nhẹ cân có thể cân đối hoặc không cân đối. Những trẻ non tháng nhẹ cân thường là nhẹ cân cân đối.

Quan sát trẻ nhẹ cân không cân đối sẽ thấy có sự khác biệt so với trẻ nhẹ cân cân đối. Trẻ nhẹ cân không cân đối thiết kế trông gầy mòn, giảm mô dưới da, da nhăn, đầu to, móng dài, da khô tróc vảy. Trẻ nhẹ cân cân đối thường có khe khớp sọ giãn, thóp trước rộng, chậm phát triển hành xương, trẻ lùn và vòng đầu nhỏ.

III. Những nguyên nhân làm trẻ nhẹ cân

Mặc dù có đa số chi tiết về di truyền, về thai, dinh dưỡng, môi trường, về nhau – tử cung có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai, nhưng trong một vài trường phù hợp, người ta không rõ nguyên nhân gây nhẹ cân. Những nguyên nhân gây nhẹ cân thường gặp là:

1.Khả năng vững mạnh thai đổi thay

– Bất thường về di truyền.

– Dị tật bẩm sinh.

– Bất thường nhiễm sắc thể.

– Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.

– Nhiễm trùng trong tử cung.

– Tiếp xúc với chất gây ung thư hoặc thuốc.

– Rối loạn điều hòa nội tiết.

2. cung cấp dinh dưỡng không đủ

– Chức năng nhau không đủ.

– Ða thai.

– Sinh già tháng.

– Bất thường bánh nhau.

– Viêm bánh nhau (do vi trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng).

– Suy dòng máu qua bánh nhau hoặc giảm vận chuyển oxy.

– Mẹ bị sản giật.

– Mẹ bị tiểu đường, cao huyết áp, bệnh thận.

– Sống trên vùng cao.

– Mẹ hút thuốc lá.

* Sự vững mạnh thai trong 3 tháng đầu, 3 tháng giữa thai kỳ chủ yếu bị ảnh hưởng bởi khả năng lớn mạnh liên quan đến di truyền của thai. Nhiễm trùng trong tử cung hoặc tiếp xúc độc chất (như chì) xảy ra trong quá trình phân chia tế bào có thể làm thay đổi khả năng vững mạnh của thai. Trẻ sinh ra từ bà mẹ có điều trị thuốc (hydantoin, thuốc chống chuyển hóa) hoặc thuốc có cocain, heroin, alcohol thường bị chậm lớn mạnh.

* công đoạn tăng trưởng của thai trong 3 tháng cuối ảnh hưởng chủ yếu bởi sự phân phối dinh dưỡng qua nhau. bởi thế, chúng có thể bị ảnh hưởng bởi chức năng của bánh nhau, sự thay đổi mạch máu tử cung hoặc cả hai. Chức năng bánh nhau không gần như có thể do nhồi máu bánh nhau, u mạch máu, thuyên tắc mạch máu, dây rốn bất thường, nhau bong non.

các kiểu lý của mẹ gây đổi thay mạch máu như sản giật, tiểu đường, cao huyết áp, bệnh thận có thể gây giảm lưu lượng máu tử cung – bánh nhau và làm thai chậm vững mạnh. Tình trạng mẹ mập, ốm ít ảnh hưởng đến sự tăng trưởng thai. Tuy nhiên, năng lượng bà mẹ nhận trong thai kỳ có liên quan đến sự tăng cân của mẹ, của bánh nhau và cân nặng của trẻ. Bà mẹ mang thai hút thuốc lá sẽ làm giảm rõ rệt cân nặng lúc sinh của trẻ (có thể giảm cả chiều cao và vòng đầu). Nguyên nhân có thể do ái lực của khí CO (Carbon monoxide) đối với hemoglobin cao hơn oxy, gây thiếu oxy thai và do tác động gây co mạch tử cung của nicotine.

Những tình trạng làm thay đổi khả năng phát triển thai hoặc gây giảm tăng trưởng thai sớm (trước 34 tuần tuổi thai) làm giảm cả cân nặng, chiều cao và vòng đầu. Tuy nhiên, những tình trạng gây giảm cung cấp dinh dưỡng của thai hoặc giảm tưới máu tử cung – bánh nhau thường ảnh hưởng đến cân nặng trước (gây nhẹ cân không cân đối).

hầu hết trẻ nhẹ cân cân đối không tìm được nguyên nhân, còn trẻ nhẹ cân không cân đối thường có nguyên nhân do mẹ bị sản giật, cao huyết áp.

IV. Chức năng trẻ nhẹ cân có gì thay đổi?

Trẻ nhẹ cân có sản phẩm nitrogen trong máu cao như ammonia, urea và acid uric, chứng tỏ có tăng dị hóa protein. Những trẻ này có rối loạn tân tạo glucose và phân hủy glycogen. vì thế, trẻ có khuynh hướng hạ đường huyết kéo dài trong rộng rãi tuần. Ở bào thai suy dinh dưỡng, tim, phổi, thận to hơn trẻ bình thường ở cùng cân nặng; Trong khi lách, gan, thượng thận, tuyến ức thì nhỏ. dự trữ glycogen trong tim và gan giảm, sợi cơ tim nhỏ hơn bình thường.

V. Tỷ lệ trẻ nhẹ cân chiếm khoảng bao nhiêu?

Tỷ lệ trẻ nhẹ cân ở các nước đang phát triển cao hơn ở các nước đã vững mạnh. Một số nơi, trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500g chiếm tỷ lệ hơn 10%. Trong nhóm nhẹ cân, trẻ đủ tháng chiếm từ 17-80%.

Ðiều trị bệnh lý mẹ lúc mang thai, theo dõi sự phát triển thai có thể giúp giảm tỷ lệ trẻ nhẹ cân.

VI. Trẻ nhẹ cân có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong thế nào?

Các vấn đề thường gặp ở trẻ nhẹ cân là ngạt, viêm phổi hít phân xu, hạ thân nhiệt, hạ đường huyết, đa hồng cầu, các bệnh lý do dị tật bẩm sinh, nhiễm trùng bào thai.

Nguyên nhân chính gây tử vong là ngạt. Trẻ chậm tăng trưởng càng nặng thì tỷ lệ thai lưu, sinh ngạt, hạ đường huyết, hạ calci/máu, đa hồng cầu càng tăng đáng kể.

Trong nhóm trẻ chậm phát triển nặng, đầy đủ là trẻ nhẹ cân không cân đối.

VII. dự hậu lâu dài của trẻ nhẹ cân

Trẻ nhẹ cân cân đối thường bị tổn thương khả năng phát triển từ công đoạn đầu của bào thai. Còn trẻ nhẹ cân không cân đối bị tổn thương khả năng phát triển chỉ trong quá trình ngắn ở cuối thai kỳ. bởi thế, trẻ nhẹ cân không cân đối thường có tham dự hậu tốt hơn.

1. Sự phát triển sau sinh

Ða số trẻ nhẹ cân sẽ tăng trưởng nhanh, bắt kịp trẻ bình thường trong 3-6 tháng đầu sau sinh.Dù thế, sau quá trình nhũ nhi, lúc 15-18 tháng tuổi và có thể kéo dài tới 7 tuổi, trẻ nhẹ cân sẽ có cân nặng, chiều cao và vòng đầu nhỏ hơn trẻ sinh bình thường. đa dạng nghiên cứu cho thấy tình trạng chậm lớn mạnh trong tử cung có ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển của trẻ.

Trẻ nhẹ cân không cân đối dễ lớn mạnh sau sinh hơn trẻ nhẹ cân cân đối.

2. Những thay đổi trong thành phần cơ thể
Khi so sánh trẻ sinh non nhẹ cân và trẻ sinh non đủ cân cùng cân nặng, người ta thấy sự tăng cân của trẻ nhẹ cân bao gồm tăng nước nhiều hơn; và tăng chất béo, chất đạm ít hơn trẻ đủ cân.

3. Sự tăng trưởng thần kinh

hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy trẻ nhẹ cân có chỉ số tối ưu kém hơn trẻ đủ cân. Trong những năm đầu, trẻ sinh non nhẹ cân dưới 1.500g có tỷ lệ lớn mạnh thần kinh bất thường, chậm vững mạnh tâm thần nhiều hơn trẻ đủ cân.

Ở lứa tuổi học đường, trẻ nhẹ cân có chỉ số logic, chỉ số phối hòa hợp nhìn – đi lại, mức độ đọc thấp hơn trẻ đủ cân. Các vấn đề về cư xử như kích động, kém phối hợp động tác, khó tập trung thường gặp hơn ở trẻ nhẹ cân.

Trẻ nhẹ cân sinh ra từ các bà mẹ cao huyết áp, tiếp tục có đầu nhỏ hoặc vấn đề chậm vững mạnh thần kinh hơn trẻ đủ cân. Trẻ chậm tăng trưởng trong tử cung có tỷ lệ chậm vững mạnh tâm thần cao, không có khả năng học tập lúc 12-14 tuổi.

lưu ý khi chăm sóc trẻ sơ sinh nhẹ cân

1. Giữ ấm

 


Bé sinh nhẹ cân cần được ủ ấm thường xuyên và liên tục

Khi mới chào đời, việc đầu tiên nên làm là giữ ấm cho bé, vì để lạnh sẽ dễ bị phù cứng bì làm trầm trọng thêm bệnh lý của trẻ. Có 2 phương pháp giúp duy trì thân nhiệt là ủ ấm trong lồng ấp và bí quyết bà mẹ Kangaroo.

bí quyết lồng ấp. Thường được thực hiện nay bệnh viện
Trẻ < 2000g nên duy trì nhiệt độ lồng ấp 33 – 34°C.
Trẻ < 1500g cần duy trì nhiệt độ lồng ấp 34 – 35°C.
Nhiệt độ trong phòng nuôi trẻ buộc phải giữ 28 – 32°C.

2. Vệ sinh – Theo dõi

 

 

Vệ sinh chăm sóc. bắt buộc đảm bảo vô khuẩn bằng cách:
Tắm bé hàng ngày bằng nước sạch, ấm và khăn mềm, với bé non tháng cần tắm nửa người trên của bé, lau khô, ủ ấm rồi mới tiếp tục tắm phần còn lại, với trẻ quá non buộc phải có kỹ thuật tắm bé trong lồng ấp.
Thay băng rốn và sát khuẩn bằng cồn 70 độ hàng ngày tiếp theo khi tắm bé cho tới khi rốn rụng và khô thành sẹo.
Theo dõi. Vì trẻ non tháng và nhẹ cân sẽ gặp phải nhiều nguy cơ bệnh lý trong thời kỳ sơ sinh, bởi thế bắt buộc theo dõi sát một số các dấu hiệu rối loạn, phát hiện sớm bệnh lý xảy ra như viêm phổi sơ sinh, viêm ruột, xuất huyết não màng não… để điều trị hoặc chuyển viện kịp thời.
Rối loạn hô hấp: thở nhanh > 60 lần/1 phút.
Nôn, sặc (buộc phải xử trí hút thông đường hô hấp tại chỗ trước khi chuyển).
Sắc mặt, môi và các đầu chi.
Rối loạn tiêu hoá: số lần đại tiện, số lượng, tính chất và màu sắc phân.
Phát hiện sớm các bất thường về cơ, xương, khớp, thị giác, thính giác và vận động của trẻể điều trị hoặc chuyển viện kịp thời.
Chuyển trẻ sơ sinh non tháng và nhẹ cân lên tuyến trên cần ủ ấm bằng phương pháp da áp da.

nên lưu ý những dấu hiệu bất thường ở trẻ.

3. Dinh dưỡng.
Sữa mẹ luôn là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhất là đối với trẻ sinh nhẹ cân.
Đối với trẻ sinh quá non (< 1500g), chưa có phản xạ bú hoặc những trẻ sinh non chưa bú được, cần kết phù hợp truyền dung dịch Glucoza 10% theo đường tĩnh mạch (tại bệnh viện).
Trẻ bú được thì mẹ cho bú nhiều bữa trong ngày (có thể 12-15 bữa/ngày).

Trẻ bú yếu nhưng đổ muỗng nuốt được, mẹ nên vắt sữa ra ly, dùng muỗng bón cho trẻ.
Trường hợp mẹ không có sữa, cần sử dụng loại sữa dành riêng cho trẻ sinh non. Đối với trẻ nhẹ cân do suy dinh dưỡng, vẫn có thể dùng các loại sữa cho trẻ dưới 6 tháng như trẻ đủ cân.

Lượng sữa dùng cho trẻ hằng ngày:
Ngày thứ nhất sau sinh: 50 ml/kg trọng lượng trẻ, chia ra 10-12 bữa/ngày.
Từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6: Mỗi ngày tăng thêm 20 ml/kg trọng lượng của trẻ, cũng chia ra 10-12 bữa/ngày.
Từ ngày thứ bảy trở đi: 170 ml/kg trọng lượng, chia ra 10-12 bữa/ngày.
Từ tháng thứ 5 trở đi, hãy cho trẻ ăn bổ sung và bú mẹ như trẻ đủ cân.

 

xem thêm những kinh nghiệm chăm sóc trẻ khác tại webmecuti.

Nguồn: http://webmecuti.com

Trả lời